Chứng viêm mũi cấp ở trẻ - Những điều cha mẹ cần biết khi giao mùa

Ở Việt Nam, chứng Viêm mũi cấp là bệnh rất thường gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt ở trẻ em, đặc biệt khi thời tiết thay đổi hoặc là vào mùa lạnh.

Theo GS.TS Ngô Ngọc Liễn thì Viêm mũi cấp ở trẻ được chia thành ba cấp độ: Viêm mũi Cấp thông thường, Viêm mũi cấp trong các bệnh nhiễm khuẩn - lấy và Viêm mũi Cấp hài nhi.

VIÊM MŨI CẤP THÔNG THƯỜNG

Nguyên nhân: Do virus, thường gặp nhiều loại, chủ yếu là Adenovirus, thường có ở họng. Do nhiễm khuẩn: viêm họng, viêm amiđan. Do các chất kích thích hay chất dễ gây dị ứng. Do thời tiết thay đổi: lạnh, ẩm, kéo dài... Hoặc do các vếu tố thuận lợi như: bị lạnh đột ngột, cơ thể suy yếu, kém dinh dưỡng.

Chẩn đoán bệnh: Người bệnh có cảm giác mệt mỏi, ớn lạnh hay gai sốt nhẹ, nhức đầu, ăn ngủ kém. Cảm giác nóng, cay hay ngứa mũi. Ngạt tắc mùi, tăng nhiều về đêm, có thể ngạt hai bên phải thở bằng miệng, gây ngửi kém hoặc mất ngủi. Thậm chí chảy nước mũi: lúc đầu trong, vài ngày sau thành mũi nhầy, có thể thành mủ, khi xì mùi thưòng có lẫn ít tia máu.

Viêm mũi cấp xuất tiết                                                          Viêm mũi cấp mủ

Tiến hành khám mũi: Lúc đầu niêm mạc sung huyết đỏ, sau thành nề sũng, sàn mũi và khe dưới có nhiều dịch nhầy hay mủ. Đặt thuốc co mạch, cuốn dưới co hồi tốt, thở thông được.

Thời gian tiến triển của bệnh: Bệnh thường diễn biến trong vòng 5 đến 7 ngày rồi tự khỏi, do đó thường được gọi là viêm mũi lành tính. Nhưng nếu cơ thể suy nhược, bội nhiễm thêm, viêm có thể lan rộng ra đường hô hấp gây viêm thanh quản, khí phế quản, hoặc theo vòi Eustachi gây viêm tai giữa, thương gặp nhất là gây viêm xoang.

Biện pháp điều trị cho trẻ khi bị bệnh: Nghỉ ngơi, giữ ấm, nâng cao thể trạng là chính, đảm bảo mũi thở thông bằng cách: Xì mùi hay hút sạch các chất ứ đọng trong hốc mũi; Kết hợp xịt mũi bằng thuốc co mạch và kháng sinh ngày vài lần. Sau đó nhỏ mũi bằng ephedrin 1-3%, naphtazolin 0,5- 1 ‰, sulfarin, argyrol 1-3%. Xông hơi nưốc nóng bàng các thuốc có tinh dầu thơm như bạc hà, khuynh diệp. Khí dung với các thuốc co mạch, corticoid, vitamin C. Không cần sử dụng kháng sinh toàn thân. Chỉ cho kháng sinh khi có sốt cao + chảy mũi mủ.

Phòng bệnh cho trẻ khi giao mùa: Tránh bị lạnh, ẩm đột ngột hay kéo dài. Giữ vệ sinh mũi họng: rỏ mũi, súc họng khi có các dịch lây đường hô hấp. Tránh các tác nhân kích thích như bụi, khí acid hay kiểm mạnh. Giải quyết các ổ viêm ở mũi họng.

Những điều Cha mẹ cần lưu ý cho trẻ: Chỉ cho kháng sinh toàn thân khi có bội nhiễm. Kết hợp nghỉ ngơi, giữ ấm, đảm bảo mũi thông thoáng là cơ bản. Đối với trẻ nhỏ viêm mũi cấp là đợt tạo lập miễn dịch.

 

VIÊM MŨI CẤP TRONG CÁC BỆNH NHIỄM KHUẨN - LÂY

Các bệnh nhiễm khuẩn lây như cúm, sởi, bạch cầu... thường gây viêm mũi cấp, đặc biệt ở trẻ em.

Chẩn đoán: Viêm mũi thường là triệu chứng sớm báo hiệu, xuất hiện vài ngày sau khi khỏi phát bệnh. Các triệu chứng chính là ngạt tắc mũi và chảy nước mũi, mức độ nặng nhẹ tuỳ từng bệnh.

Sởi: Khi sởi mọc, mũi ngạt tắc, chảy nước mũi trong loãng, nhiều. Khi hết sốt, sởi bắt đầu lặn, chảy nước mũi thành mủ nhầy và giảm dần. Khi sởi bay hết, viêm mũi có thể tự khỏi nhưng cũng có thể thành viêm mũi mủ mạn tính gây bợt, loét vùng cửa lỗ mũi, gây xơ, sẹo mũi.

Do cúm: Các triệu chứng ở mũi thường có sớm: ngứa, cay trong mũi, hắt hơi, ngạt tắc tăng dần, chảy nước mũi loãng, trong có thể lẫn dây máu khi xì mạnh, kèm theo nhức đầu, đau mỏi mình mẩy, sốt.

Thường sau vài ngày các triệu chứng toàn thân qua đi; ngạt tắc mũi giảm dần; chảy nước mũi ít đi dần và tự khỏi. Nếu có bội nhiễm có thể thành viêm mũi mạn, viêm xoang.

Do bạch hầu: Thường sau bạch hầu họng

- Mũi ngạt, tắc cả hai bên, rõ rệt làm trẻ phải thở bằng miệng; chảy mũi nhẫy, dính, thường có lẫn dây máu. Các triệu chứng của bạch hầu cũng rõ rệt: trẻ mệt lả, thể trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc, ho tiếng ho ông ổng. Nếu bạch hầu lan xuống thanh quản gây khó thở, có thể ngạt thở thường phải mở khí quản sớm.

- Khám mũi: Mủi nhiều xuất tiết nhầy, niêm mạc phù nề, cuốn dưới nề rõ, có thể thấy hốc mũi có các giả mạc trắng, đục, dai, dính, khó lấy giống như giả mạc ở họng. Cửa lỗ mũi thường bị rạn loét nông.

Biện pháp điều trị khi trẻ mắc bệnh: Trước hết đảm bảo mũi thông thoáng, không để dịch, mủ hay giả mạc ứ đọng; cuốn dưới được co hồi tốt. Trong các trường hợp bội nhiễm nặng, cần rỏ mùi hay khí dung với dung dịch kháng sinh + corticoid, khi có giả mạc cần cho dung dịch alphachymotrypsin. Điều trị bệnh nhiễm khuẩn là chủ yếu. Cha mẹ cần chú ý nâng cao sức đề kháng, cho sinh tố, nghỉ ngơi cho trẻ.

Phòng bệnh cho trẻ: Vận động trẻ tiêm chủng phòng sởi, bạch hầu đầy đủ. Cách ly sớm, không để lây lan thành dịch. Rỏ, xịt mũi ngày vài lần, sớm không đợi khi bị viêm mũi mới rỏ. Phát hiện sớm các biến chứng tại chỗ và toàn thân.

Những điều cha mẹ cần lưu ý: Khi trẻ bị cúm sởi - bạch hầu cần rỏ mũi hàng ngày. Cần theo dõi, điều trị tốt tránh viêm loét mũi, viêm xoang. Đặc biệt không để lây lan thành dịch.

 

VIÊM MŨI CẤP HÀI NHI                  

Trẻ vài ngày tuổi đã có thể bị viêm mũi cấp. Diễn biến phức tạp vì trẻ chưa có phản xạ thở bằng miệng, chưa biết xì mũi, hốc mũi hẹp nên dễ gây tắc, ngưng thở, đưa tới sặc khi cho bú, có thể đưa tới tử vong. Viêm mũi cấp ở hài nhi dễ lan ra các tổ chức kế cận, nhất là viêm phổi.

Để chẩn đoán bệnh, theo GS.TS Ngô Ngọc Liễn, cha mẹ cần phân loại được hai loại là Viêm mũi cấp thông thường hay Viêm mũi nhiễm khuẩn:

Viêm mũi cấp thông thường: Do bị lạnh, thay đổi môi trường đột ngột, không được hút dịch ở mũi, rỏ mũi sau khi đẻ. Thường thấy ngạt, tắc mũi cả hai bên, ứ đọng dịch nhầy trong hốc mũi. Khó bú, khi bú phải ngậm miệng nên thiếu thở phải bỏ bú, dễ bị sặc, tím tái. Trẻ ngủ không yên giấc, hay thức giấc, quấy khóc, sau vài ngày có thể giảm dần, trở lại bình thường. Cũng có thể gây viêm khí, phế quản, viêm phổi.

Viêm mũi nhiễm khuẩn: Không được hút dịch mũi sau khi đẻ, đặc biệt viêm mũi lậu cầu. Do mũi bị ứ đọng dịch khi qua âm đạo, ở mẹ bị lậu nay hiếm gặp. Trẻ thường sốt cao sau khi đẻ được 1-2 ngày, có thể nôn, trớ, lên cơn co giật. Tắc mũi hoàn toàn, không thở được bằng mùi, có tình trạng thiếu dưỡng khí, tím tái. Mủ đặc màu vàng hay xanh ứ đọng đầy hai hốc mũi, làm cho cửa hốc mũi và môi trên bị nề, đỏ. Trẻ không bú được nên gầy, tọp đi rõ. Dễ bị sặc, ngạt thở do cố ý ép cho bú. Viêm thường lan nhanh gây: Viêm kết mạc mủ: hai khoé mắt đầy mủ, mí mắt mọng, đỏ; Dễ bị viêm khí, phê quản, viêm phổi; Trên cơ sở suy dinh dưỡng, suy hô hấp mạn có thể tử vong do bị sặc, nghẹt thở hay viêm phổi.

Biện pháp điều trị bệnh: Để đảm bảo thở thông cần: Hút sạch dịch, mủ ứ đọng trong mũi bằng bơm tiêm hay bóng cao su đầu có lắp ống thích hợp. Rỏ mũi bằng adrenalin 1% hay ephedrin 0,5 - 1% sau vài phút. Rỏ argyrol 1% với viêm mũi cấp thông thường, rỏ dung dịch penicillin 10.000 đến 20.000 đv/ml, 3 giờ một lần với viêm mũi lậu cầu. Nếu có sốt cao phải đùng kháng sinh.

Phòng bệnh cho trẻ: Ngay khi lọt lòng cần hút sạch dịch ở mũi, rỏ mũi bằng argyrol 1%. Đồng thời luôn giữ ấm cho trẻ, tránh gió lạnh, ẩm.

Những điều cha mẹ cần lưu ý: Viêm mũi ở hài nhi có thể gây tử vong do sặc, ngạt thở, viêm phổi. Không được rỏ mũi thuốc co mạch mạnh như naphtazolin, ephedrin 3%... có thể gây sung huyết não, co giật.

 

Trích nguồn: Bệnh học tai mũi họng

Chủ biên GS.TS. NGÔ NGỌC LIỄN