Ngạt mũi, tắc mũi ở trẻ - Nguyên nhân do đâu?

Ngạt mũi, tắc mũi là một trong những chứng thường gặp nhất ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là trẻ nhỏ, không chỉ trong các bệnh viêm mũi, xoang mà trong nhiều trường hợp chỉ là rối loạn cơ năng đơn thuần.

Ngạt, tắc có thể một hoặc hai hốc mũi; có thể thay đổi từng lúc, từng thời kỳ; có thể chỉ ở mức độ nhẹ gây khó chịu nhưng cũng có thể tới mức độ nặng gây thiếu dưỡng khí, ngạt thở (chủ yếu ở trẻ nhỏ); có thể đơn thuần nhưng thường kèm theo chảy mũi và gây giảm, mất ngửi.

Để nhận biết chứng bệnh, cha mẹ cần xác định các biểu hiện:

Thời gian xuất hiện: Từng lúc hay liên tục, một hay cả hai bên.

Mức độ: Nhẹ, vừa hay nặng; có bị tắc hoàn toàn? Có tăng hay giảm theo tư thế đầu, theo thời gian (sáng, tối...), theo thời tiết...

Có hay không các chứng kèm theo: Chảy mũi, ngứa, đau mũi, có gây giảm, mất ngửi?

Thăm khám:

Khám ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ đôi khi khó xác định là bé chỉ bị ngạt hoặc bị tắc một bên.

Quan sát bằng mắt thường: Đặc biệt chú ý khi trẻ bú hay ngủ: Không bú được lâu, hay sặc, tím tái khi bú. Luôn há mồm để thở, khi ngủ ngáy to, cần nhớ là ở trẻ sơ sinh, trẻ chưa có phản xạ thở bù bằng mồm. Ứ đọng chất xuất tiết ở mũi.

Ở trẻ nhỏ nếu ngạt, tắc mũi kéo dài có thể gây các biến dạng ở mặt như: môi trên dày, tớn, làm lộ răng, lợi, răng vẩu, mọc lệch, cằm lẹm, mũi hếch, cánh mũi bè ra...

Nghe: Nếu tắc mũi hai bên liên tục làm thay đổi giọng nói: không vang, tắc, giọng mũi kín (như vần anh thành ăn, cái mành mành thành cái mằn mằn).

Thăm khám: Đặt gương Glatzel hay gương soi thường trước mũi để xem mức độ mờ gương do hơi thở gây ra (như đã nói trong phần khám chức năng). Với trẻ nhỏ cũng có thể để mảnh bông hay sợi chỉ trước lỗ mũi để xem có di động khi thở không. Soi mũi nhằm xác định: Tình trạng cuốn dưới: sung huyết, phù nề, thoái hóa...; có co hồi với thuốc gây co? Hốc mũi có polyp, cuốn giữa thoái hóa hay u? Mũi sau có thoái hóa đuôi cuốn, polyp, u xơ hay u ở vòm?

Nguyên nhân gây ngạt mũi, tắc mũi:

Ở trẻ sơ sinh: Có thể do dị tật bẩm sinh thì cần lưu ý tịt lỗ mũi sau cả hai bên, tắc mũi xuất hiện ngay sau khi đẻ. Hoặc viêm mũi do lậu cầu, thường xuất hiện sau khi sinh 24 - 36 giờ. Do dị tật bẩm sinh: tịt lỗ mũi sau một bên hay không hoàn toàn. Viêm V.A quá phát: tắc mũi tăng rõ khi kèm thêm viêm. Hoặc do viêm mũi, viêm mũi họng cấp.

Ở trẻ nhỏ: Do viêm V.A rất thường gặp, ngạt tắc tăng rõ khi bị viêm. Viêm mũi cấp, mạn, viêm xoang thường có chảy mũi nhầy hay mũi mủ. Hoặc do có dị vật: thường ngạt tắc đột ngột một bên, chảy mũi, mủ thối.

Ở trẻ lớn, người lớn: Có thể do viêm mũi. Quá phát: ngạt tắc liên tục. Dị ứng: từng đợt theo mùa, có yếu tố dị nguyên. Vận mạch: từng lúc, khi bên nọ, lúc bên kia. Viêm xoang: ngạt tắc liên tục khi có thoái hóa cuôn giữa. U lành: polyp mũi, u xơ vòm mũi họng (gặp ở tuổi dậy thì, nam giới...). U ác: ung thư hốc mũi, sàng hàm, NPC: chảy mũi mủ hôi, có lẫn máu. Lệch hình vách ngăn: các gai, gờ, lệch, vẹo vách ngăn vùng thấp đểu có thể gây ngạt, tắc mũi. Hoặc cũng có thể do chấn thương: sập sống mũi, vách ngăn, các sẹo dính cửa lỗ mũi trước hay giữa cuốn dưới và vách ngăn.

Cách xử lý tại nhà: Trước hết cần làm thông thoáng hốc mũi: hút dịch, mủ ứ đọng, xì mũi nhẹ (vói trẻ em cần hướng dẫn đúng). Sau đó rỏ mũi, xịt mũ bằng các thuốc gây co: ephedrin 1-3%, sulfarin, naphtazolin 0,5- 1%. Cần lưu ý không được rỏ naphtazolin cho trẻ sơ sinh mà phải dùng rỏ mũi bằng adrenalin 1%­.

Trường hợp biểu hiện bệnh kéo dài với mức độ ngày càng nặng, cần tới sở y tế thăm khám, xác định nguyên nhân để chữa trị kịp thời và triệt để.

Những điều cha mẹ cần biết: Ngạt, tắc mũi ở trẻ sơ sinh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng do ngạt thở, sặc, viêm phổi, cần phát hiện cẩn thận. Không được dùng naphtazolin, cho trẻ sơ sinh. V.A là nguyên nhân thường gặp gây ngại tắc mũi ở trẻ em. Rỏ thuốc mũi nhiều, kéo dài làm ảnh hưởng đến niêm mạc, gây viêm mũi do thuốc.

 

Trích nguồn: Bệnh học tai mũi họng

Chủ biên GS.TS. NGÔ NGỌC LIỄN