Phòng và Chăm sóc trẻ còi xương do thiếu Vitamin D

Bệnh thiếu vitamin D còn gọi là bệnh còi xương làm ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa calci phospho trong cơ thể làm cho hệ xương phát triển chậm và dễ biến dạng. Còi xương thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi. Theo điều tra  của Bệnh viện Nhi Trung ương tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ dưới 3 tuổi là 9,4%.

Vai trò của Vitamin D đối với trẻ: Vitamin D giúp cho cơ thể tăng cường hấp thu calci, phospho tại ruột nhờ tăng tổng hợp protein mang calci (CaBP Calcium binding protein). Kích thích quá trình gắn calci vào xương nhờ sự có mặt của hormon cận giáp trạng. Tăng tái hấp thu calci ở ống thận nhờ sự có mặt của hormon cận giáp trạng.

Khi thiếu vitamin D sẽ làm giảm 3 quá trình trên do đó làm giảm calci máu. Khi calci máu giảm sẽ kích thích cơ thể tăng tiết hormon cận giáp trạng.

Tình trạng cường giáp trạng sẽ dẫn đến: Giảm phosphat máu do giảm tái hấp thu ở ống thận làm cho trẻ có các biểu hiện rối loạn chức năng hệ thần kinh như kích thích và ra nhiều mồ hôi. Tăng cường vận chuyển calci từ xương vào máu gây loãng xương.

Các yếu tố làm nên nguy cơ thiếu Vitamin ở trẻ:

- Ăn uống: Cơ thể trẻ nhận được vitamin D từ sữa mẹ và các loại thức ăn như gan, sữa, trứng và các loại rau quả có tiền vitamin D được hấp thụ ở ruột. Vì vậy trẻ dễ bị thiếu vitamin D nếu: Mẹ thiếu sữa hoặc trẻ bị cai sữa sớm; Ăn bổ sung không đúng số lượng và chất lượng.

- Trẻ sống trong môi trường thiếu ánh nắng mặt trời: Chất tiền vitamin D ở da được chuyển thành vitamin D nhờ bức xạ của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời, cũng là một trong các nguồn cung cấp vitamin D quan trọng. Do đó trẻ cũng dễ bị thiếu viamin D nếu: Không cho trẻ ra ngoài trời nhất là những tháng đầu sau đẻ; Nhà cửa chật, thấp, ẩm, tối, thiếu ánh sáng mặt trời; Mùa đông mặc nhiều quần áo che kín cả cơ thể; Mùa đông và xuân nhiều sương mù kéo dài.

Tắm nắng cho trẻ sơ sinh đúng cách
Tắm nắng cho trẻ sơ sinh đúng cách

- Cơ địa trẻ: Trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 1 tuổi vì tuổi này hệ xương đang phát triển mạnh. Trẻ bụ bẫm, cân nặng tăng nhiều trên kênh A thì nhu cầu vitamin D hằng ngày lớn hơn lượng cung cấp vào. Trẻ đẻ non, sinh đôi, trẻ đẻ thấp cân. Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như lỵ, sởi, viêm phổi. Trẻ mắc các bệnh rối loạn tiêu hoá kéo dài, tắc mật bẩm sinh.

Triệu chứng lâm sàng: Dấu hiệu sớm nhất của bệnh mà cha mẹ dễ phát hiện nhất đó là, trẻ ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi, rụng tóc sau gáy. Trẻ chậm biết lẫy, chậm biết ngồi, chậm biết đứng hoặc chậm biết đi.

Điều trị bệnh: Bổ sung vitamin D theo đường uống hoặc tiêm. Khi trẻ bị còi xương cần phải cho uống vitamin D 4000 đv/ngày trong 2 tháng hoặc dùng 1 liều duy nhất 200.000đv. Khi trẻ mắc còi xương nặng cấp tính có thể cho uống tới 10.000 đv/ngày. Bổ sung calci khi cần thiết. Điều chỉnh chế độ ăn hợp lí theo độ tuổi.

Có thể dùng phương pháp xoa bóp, thể dục chỉnh hình phục hồi chức năng khi cần thiết để điều trị bệnh còi xương, cũng như khi bệnh đã để lại di chứng cũng cần tiếp tục đi chỉnh hình cho hệ thống xương của trẻ phát triển tốt và cơ thể phát triển cân đối.

Kế hoạch Phòng, chăm sóc và thực hiện chăm sóc trẻ:

- Chế độ ăn đảm bảo dinh dưỡng: Với trẻ nhỏ tăng cường bú mẹ; Trẻ lớn ăn thêm sữa nhân tạo; Chế độ ăn bổ sung đảm bảo đủ thành phần của ô vuông thức ăn; Uống  nước hoa quả.

- Theo dõi chiều cao, cân nặng và dấu hiệu sinh tồn: Cân trẻ hàng ngày; Đo mạch, nhiệt độ, nhịp thở.

- Thực hiện y lệnh thuốc của bác sĩ: Uống vitamin D liều cao theo y lệnh.

- Hướng dẫn bà mẹ cách phòng bệnh: Hướng dẫn bà mẹ nhận biết được các dấu hiệu của bệnh. Giáo dục cho bà mẹ biết tác hại của bệnh còi xương ảnh hưởng đến cơ thể trẻ đang phát triển và trưởng thành. Nếu không phát hiện được từ giai đoạn sớm để điều trị kịp thời sẽ chuyển sang giai đoạn di chứng làm cho trẻ có hình vóc không cân đối, xấu về hình thức và chậm chạp về trí tuệ.

Muốn phòng bệnh còi xương phải bắt đầu từ khi trẻ còn nằm trong bụng mẹ và tiếp tục trong năm đầu sau khi đẻ.

Đối với bà mẹ: Mẹ có thai phải ăn uống đầy đủ, thường xuyên hoạt động ngoài trời. Tắm nắng, tránh kiêng khem quá mức, không nên ngồi nhiều trong nhà. Trong 3 tháng cuối của thời kỳ có thai mẹ uống thêm vitamin D 1000  đến 1200 đv/ngày hoặc uống một liều duy nhất 100.000 đến 200000đv nếu mẹ không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Ăn uống đầy đủ tránh kiêng kem quá nhiều.

Đối với con: Sau khi đẻ cho trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt. Đến tháng thứ 5 ngoài sữa mẹ phải cho ăn thêm thức ăn bổ sung theo ô vuông thức ăn. Nên cai sữa khi trẻ được 24 tháng. Sau đẻ 2 tuần có thể cho trẻ ra ngoài trời trong những ngày ấm áp để tắm nắng. Uống vitamin D hàng ngày với liều 800 đến 1600đv cho các trẻ có nguy cơ cao. Dùng vitamin D1 liều cao 200.000đv/ 6 tháng 1 lần cho các trẻ mà bà mẹ không thể nhớ được việc cho uống thuốc hàng ngày đều đặn.

 

(Theo: Điều dưỡng nhi khoa - Bộ Y Tế)