Triệu chứng, chẩn đoán và Bài thuốc dân gian điều trị bệnh Đái tháo đường

Bản chất của chứng bệnh này theo y học cổ truyền là miệng khát dấn đến uống nhiều, ăn nhiều mà người gầy sút, người bệnh đi tiểu nhiều. Trên lâm sàng y học cổ truyền lấy ba bộ vị: Thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu mà phân tích để đưa ra phương pháp điều trị: Nhưng trên thực tế lâm sàng, triệu chứng của ba bộ vị này thường kết hợp với nhau, chỉ biểu hiện các triệu chứng này nặng, nhẹ khác nhau ở mỗi thể.

Thể thượng tiêu: Triệu chứng: Bệnh nhân thường có cảm giác khát, muốn uống nước nhiều, miệng khô, lưỡi khô, đi tiểu lượng nhiều, bên thành lưỡi và đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch hồng sác.

Pháp điều trị: Thanh nhiệt, nhuận phế sinh tân chỉ khát.

Bài thuốc: “Tiêu khát phương” hợp “Bạch hổ gia Nhân sâm thang”: Hoàng liên 8g, Nhân sâm 12g, Thiên hoa phấn 12g, Tri mẫu 6g, Sinh địa 12g, Thạch cao 10g, Ngưu tất 16g, Ngạnh mễ 20g. Tất cả làm thang sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Nếu biểu hiện phế âm hư rõ gia Thiên môn, Mạch môn để nhuận phế thanh nhiệt.

Thể trung tiêu: Triệu chứng: Người bệnh ăn nhiều mà vẫn đói, hình thể gầy mòn, đại tiện táo, rêu lưỡi vàng khô, mạch thực và có lực.

Pháp điều trị: Thanh vị hỏa, dưỡng âm tăng dịch.

Bài thuốc: Ngọc nữ tiễn: Thạch cao 20g, Mạch đông 12g, Ngưu tất 16g, Sinh địa 16g,

Tri mẫu 8g. Nếu bệnh nhân can hỏa vượng mạnh có thể gia thêm Hoàng cầm, Chi tử để thanh can tả hỏa. Tất cả các vị thuốc trên làm thành thang, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

Thể hạ tiêu: Triệu chứng: Người bệnh đi tiểu nhiều lần với số lượng nhiều, nước tiểu như cao, mỡ hay ngọt, lưỡi khô, miệng khô khát, uống nước nhiều. Ngũ tâm phiền nhiệt (lòng bàn tay, bàn chân nóng và ngực có cảm giác nóng), đầu váng đau, lưng gối đau mỏi, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, khô, ít rêu, mạch trầm tế sác.

Pháp điều trị: Tư bổ thận âm, sinh tân thanh nhiệt.

Bài thuốc: Tri bá địa hoàng thang gia giảm: Thục địa 12g, Sơn thù 10g, Sinh địa 16g, Trạch tả 12g, Phục linh 12g, Phục linh 12g, Đan bì 12g, Hoàng bá 8g. Gia thêm: Sa sâm 12g, Mạch môn 10g. Ngưu bàng tử 6g. Nếu bệnh nhân mệt nhiều, thở ngắn biểu hiện tình trạng khí âm lưỡng hư gia Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật. Nếu bệnh nhân mắt mờ, ù tai gia: Kỷ tử, Cúc hoa, Thạch xương bồ. Nếu bệnh nhân hay hồi hộp, mất ngủ gia thêm: Toan táo nhân, Bá tử nhân.  Nếu cả thận âm dương lưỡng hư thì chuyển sang dùng bài Kim quỹ thận khí hoàn.

Chứng tiêu khát tuy có phân chia thành 3 thể: Thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu tương ứng với phế táo, vị nhiệt và thận hư: Nhưng đặc điểm chung của ba thể đó là âm hư và nhiệt táo. Trong đó đặc biệt chú ý tới thận âm hư, khi điều trị thì phải được coi trọng. Ngoài điều trị bằng thuốc y học cổ truyền ta cần chú ý đến chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường, cũng như tránh căng thẳng về mặt tinh thần. Đồng thời trên quan điểm kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền thì hãy coi y học cổ truyền là một phương pháp tham khảo để điều trị, để tìm phương thức kết hợp với y học hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả điều trị căn bệnh mang tính xã hội này.

 

(Theo Bệnh học nội khoa y học cổ truyền - ĐH Y Hà Nội)